Duoi Ta Ao Cua Dang Vo Nhiem

dưới tà áo của đấng vô nhiễm

Dưới Tà Áo Của Đấng Vô Nhiễm Truyện tranh THÁNH STANISLAÔ GIÊSU MARIA Đấng Sáng Lập Dòng Linh mục Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội Mừng kỷ niệm 350 năm thành lập Dòng ---- Sài Gòn 2022 ---- NHÀ XUẤT BẢN ĐỒNG NAI

Nguyên tác : The Illustrated story of Saint Stanislaus Papczynski Tác giả : Casimir Krzyzanowski, MIC Chuyển ngữ : Dòng Linh Mục Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội - Miền Việt Nam

5 M c l c Tiểu sử Thánh Stanislaô Papczynski............................ 6 Cuộc đời Thánh Stanislaô Papczynski......................... 7 Vị thánh cho thế giới hôm nay. ................................152 Vị thánh cho Giáo Hội Việt Nam.............................155 Đôi nét về Hội Dòng Linh mục Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội (MIC)... 158 Tuần Cửu Nhật qua lời nguyện củaThánh Stanislaô Papczynski.........160

6 Tiểu sử Thánh Stanislaô Papczynski 18/05/1631: Gioan Papka chào đời. 1646: Sinh viên Đại học Dòng Tên. 1648: Bệnh nặng, vô gia cư, kẻ ăn xin. 1650: Triết h c t i H c Viện Dòng Tên - TP Lvov. 1654: Gia nhập Dong Linh muc Piarist. 1655: Thần h c t i thủ đô Vacsava. 1656: Khấn Dòng. 1658: Giáo sư môn hùng biện t i Đại học Piarist. 1661: Chịu chức linh mục. 1667: Hành trình đến Rôma. 1670: Rời khỏi Dong Linh muc Piarist. Lời khấn máu “Oblatio”, sáng lập Dong Linh muc Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội. 1675: Linh mục tuyên úy cho quân đội vua Gioan III Sobieski. 1677: Thiết lập cộng đoàn mới t i Thánh Địa Giêrusalem. 1699: Dòng Linhmuc ĐứcMẹ VôNhiễmNguyên Tội. được Tòa Thánh công nhận. 17/09/1701: Qua đời t i Tu viện Gora Kalwaria.

7 Cuộc đời Thánh Stanislaô Papczynski

8 Thánh Stanislaô Papczynski sinh ra và lớn lên trong những năm đầu đời tại làng quê Podegrodzie ở miền Nam cao nguyên Ba Lan. Nơi ấy, núi cao rừng rậm bao quanh, phong cảnh đẹp như tranh. Những mái nhà tranh trong làng xếp theo hình bán nguyệt trên những cồn cát khá cao kéo dài đến tận chân trời. Xa xa, thánh đường giáo xứ hiện lên giữa làng quê rộng lớn. Tuổi thơ cha Stanislaô gắn liền với ngôi thánh đường giáo xứ này. Đây là nơi cha được rửa tội và lãnh nhận bí tích Thêm Sức. Cha tham dự các lễ nghi tôn giáo cùng với cha mẹ và tiếp nhận những hiểu biết cơ bản về đời sống cầu nguyện và thờ phượng của người Công giáo. Đây cũng là nơi cha được làm quen với những điều huyền diệu khi giúp lễ tại giáo xứ. Những lần tiếp xúc đầu tiên trong đời sống thiêng liêng tại nhà thờ Podegrodzie là hành trang chuẩn bị cho thiên chức linh mục và ơn gọi thánh hiến sau này của cha.

9

10 Vào giữa tháng 5 năm 1631, sau khi đi mua sắm ở Stary Sacz (là thành phố gần Podegrodzie), bà Sophia (mẹ cha Thanh Stanislaô) vội vã trở về nhà. Bà còn nhiều việc phải làm nhưng bà chỉ vẫn dành ít thời gian ghé tu viện Clara để cầu nguyện tại mộ Chân phước Cunegunda (Đấng sáng lập tu viện này). Trời sắp tối, bà càng vội vã khi mây đen mù mịt kéo đến từ sườn núi ở gần đó. Khi bà đến bờ sông, một người lái đò đã chờ sẵn để đưa bà qua sông. Từ đây, bà có thể nhìn thấy ngôi nhà của mình phía bên kia bờ nên nghĩ rằng mình chắc chắn sẽ về nhà trước khi trời đổ cơn mưa. Khi con đò đang lướt nhẹ giữa dòng sông, mây đen bất ngờ ập tới, bầu trời u ám, sấm nổ sét ran lốc hung hãn, nước động dữ dội và con đò chao đảo như một chiếc lông vũ. Thật nguy hiểm, bà Sophia có thể chết đuối cùng với đứa con trong bụng đang kêu cứu! Trong khi người lái đò lo lắng tìm mọi cách để cập bến an toàn thì Sophia cầu nguyện sốt sắng. Bà cầu cho sự an toàn của bản thân mình và cả người lái đò, đặc biệt cho đứa con bà đang cưu mang. Trong thời khắc sinh tử ấy, bà hoàn toàn phó thác và dâng hiến đứa bé cho Chúa Giêsu và Mẹ Maria. Bà Sophia là người có đức tin sâu sắc và lòng đạo đức tốt lành.

11 Một tiếng sấm dữ dội, bất ngờ làm cả Sophia và người lái đò ngã nhào xuống sông. Thật may mắn là họ ngã ngay gần bờ, nơi mực nước chỉ ngang đầu gối nên cả hai đều an toàn. Hai mẹ con được cứu sống cách kỳ diệu nhờ sự quan phòng của Thiên Chúa. Không lâu sau đó, bà Sophia hạ sinh một bé trai - người sau này sẽ trở thành một vị thánh nổi tiếng là Thánh Stanislaô Giêsu Maria Papczynski.

12 Đứa bé được sinh ra vào rạng sáng Chúa nhật 18 tháng 5 và được rửa tội tại nhà thờ giáo xứ cùng ngày, được đặt tên là Gioan Baotixita. Người mẹ hạnh phúc thường xuyên lặp lại việc dâng toàn bộ cuộc sống của đứa con mình cho Chúa Giêsu và Mẹ Maria. Liệu bà có thể biết về cuộc sống của cậu bé sau này hay không? Ông Tôma - thân phụ Thánh Stanislaô - đã hoàn thành chương trình tiểu học - đây là cấp học ít người có thể đạt được vào thời đó. Ông còn là một người thông minh, ngay thẳng. Vì thế, ông được làm trưởng thôn và thủ quỹ của giáo xứ. Ông là một thợ rèn nổi tiếng khắp vùng lân cận. Ông hy vọng đứa con nhỏ sau này sẽ kế nghiệp và tiếp tục công việc của mình. Liệu ông có thể biết được rằng ngay từ lúc đó, Thiên Chúa đã định trước cho đứa trẻ một kế hoạch khác rồi chăng?

13

14 Trong những năm đầu đời, thân mẫu Gioan luôn ươm mầm thiên hướng thánh thiện nơi cậu. Ảnh hưởng của bà đến con trai rất đậm nét. Chính bà là người dạy cho cậu những câu kinh đầu tiên và hằng dõi theo cậu đêm ngày. Chính bà là người đã khơi dậy trong cậu lòng yêu mến các việc đạo đức và phục vụ của giáo xứ. Tại nhà, các cậu bé giúp lễ thường bắt chước những gì chúng nhìn thấy trong thánh lễ. Gioan cũng làm như vậy. Cậu cũng có một bàn lễ nhỏ và giữ gìn cẩn thận. Cậu cố gắng trang trí bàn lễ bằng hoa tươi, nến sáng và một vài ảnh tượng thánh. Gioan làm theo những lời nói, hành động và cử chỉ của linh mục lúc dâng lễ. Cậu vui thích khi tổ chức những cuộc rước kiệu cùng với đồng bạn. Những người lớn tuổi phản ứng khác nhau trước những hành động của bọn trẻ. Có người vui mừng khi nhìn thấy hình ảnh của vị linh mục tương lai. Người khác thì ngăn cản vì sợ chúng mê tín.

15

16 Gioan có một người anh trai tên là Phêrô. Ngay từ nhỏ, Phêrô đã thông minh và lanh lợi trong việc học. Vì thế, cha mẹ đã không cần suy tính, gửi cậu đến trường ngay khi đủ tuổi đi học. Gioan thì hoàn toàn khác. Ngay từ nhỏ, cậu đạo đức thánh thiện nhưng dường như không có khả năng học tập. Vì thế, cha mẹ không định gửi cậu đến trường. Thật vậy, cha mẹ không ghi danh cho cậu đi học. Điều này khiến Gioan rất buồn khi thấy bạn bè cùng trang lứa cắp sách đến trường còn mình thì không. Rồi một ngày, khi hiểu nỗi đau của đứa con yêu quý, ông Tôma cho phép Gioan thử vào học lớp sơ cấp tại trường. Thế nhưng, buổi học đầu tiên đã làm cho cậu phải nhục nhã ê chề, cậu bị đuổi ngay tức khắc vì không thể theo kịp các bạn trong lớp.

17 Vào thời đó, việc giữ chay ngày Thứ Bảy để tôn kính Đức Mẹ Maria rất phổ biến tại Ba Lan. Cậu Gioan cũng giữ chay như thế. Hơn nữa, cậu luôn trông cậy vào lời chuyển cầu của Đức Mẹ, với tình yêu đơn sơ của trẻ thơ dành cho người mẹ. Nhờ vậy, Mẹ Maria đã không để cậu phải mòn mỏi chờ đợi sự trợ giúp của Người. Ơn đầu tiên Thánh Stanislaô nhận được từ chuyển cầu của Đức Maria là sự đánh thức khả năng học tập nơi ngài. Trong thực tế, chỉ có Chúa mới có thể giúp cậu trong hoàn cảnh này. Mặc dù cậu nhiều lần cố gắng tự học ở nhà bằng cách đọc lén sách vở của anh trai nhưng không kết quả gì. Tuy nhiên, một ngày kia, những khó khăn trong học tập đã tan biến và cậu bắt đầu tiếp thu kiến thức cách dễ dàng. Trong toàn bộ cuộc sống, Thánh Stanislaô cho rằng ngài nhận được ơn lành này nhờ lời chuyển cầu của Đức Trinh Nữ Maria.

18 Sau lần đầu tiên Gioan bị xấu hổ ở trường, ông Tôma nhất quyết không cho cậu đi học lại. Khắp trong vùng đồn đãi về cậu con trai dốt nát của ông. Tiếng chê bai này ảnh hưởng rất nhiều đến danh giá của gia đình. Tuy thế, Gioan vẫn trở lại trường. Một ngày kia, nhờ một người hàng xóm giúp đỡ, Gioan lén ra khỏi nhà và ở lại trường cả buổi chiều hôm ấy mà cha mẹ không hề hay biết. Mặc dù thầy giáo còn nghi ngờ về khả năng học tập của Gioan, nhưng ông vẫn bắt đầu dạy cho cậu học bảng chữ cái. Thầy giáo ngạc nhiên khi thấy cậu thuộc lòng bảng chữ cái chỉ vỏn vẹn trong vài giờ đồng hồ. Hơn thế nữa, không lâu sau đó, Gioan đã vượt qua tất cả bạn bè cùng lớp. Trong ba năm, cậu đã hoàn thành chương trình các lớp học sơ cấp cách dễ dàng.

19 Thế nhưng, một sự thay đổi lạ thường của Gioan khi cậu kết thúc các lớp sơ cấp và bước vào các lớp học cao hơn ở bậc tiểu học. Một cậu bé 10 tuổi, luôn siêng năng, chăm chỉ học hành, bỗng nhiên bây giờ lại không chịu đến trường. Cậu sinh ra lười biếng và chỉ muốn làm những việc mình thích. Một ngày nọ, thay vì làm việc nhà, cậu liều lĩnh leo lên mái nhà để xem cò con trong tổ. Mải mê nhìn ngắm, cậu bất cẩn, kêu thất thanh, ngã nhào xuống đất. Mẹ cậu hốt hoảng lao tới. Gioan nằm bất động trong vũng máu cùng với những vết thương sâu. Bà Sophia sợ hãi vì đứa bé như đã chết. Bà lo rằng con mình sẽ mãi mãi què quặt. Tai nạn ấy là một cú sốc lớn cho gia đình. Tuy nhiên, nhờ lời cầu nguyện liên lỉ với Đức Mẹ Maria, Gioan hồi phục hoàn toàn chỉ sau một thời gian ngắn.

20 Tuy nhiên, Gioan không màng gì đến việc trở lại trường học. Trên thực tế, ông Tôma cũng không muốn đứa con của mình đến trường. Vì thế, thay vì đưa cậu vào lò rèn để tiếp tục công việc của mình thì ông lại cho cậu ra đồng chăn cừu. Gioan vui mừng hớn hở chạy ngay ra đồng vì không còn phải nghĩ đến chuyện học hành nữa. Những ngày này đối với Gioan thật đẹp làm sao! Cậu thường ngồi bên cạnh đên thờ nhỏ trên những cánh đồng (tại Ba Lan, khắp mọi nẻo đường quê đều có những đền thờ như vậy), cất lên những điệu nhạc vi vu cho đàn cừu từ chính cái sáo tự tay cậu làm nên, hoặc có những lúc cậu ngồi yên lắng nghe những âm thanh sống động của thiên nhiên. Tuy nhiên, không lâu sau đó, Gioan cảm thấy rằng cuộc sống của một người chăn cừu không hề dễ dàng. Đây là một công việc tay chân rất mệt nhọc. Vào mùa hè, mặt trời đốt cháy làn da cậu không thương tiếc. Vào mùa đông, tuyết giá và gió lạnh làm cậu bị hen suyễn. Tuy nhiên, Gioan vân luôn luôn cố gắng và kiên trì chu toàn nhiệm vụ của mình. Cuối cùng, khi cậu cảm thấy mệt mỏi cả về thể xác lẫn tinh thần, cậu nghĩ mình không thể tiếp tục công việc này được nữa. Gioan bắt đầu suy nghĩ sâu hơn về tương lai. Cậu tự nói với mình rằng trong cuộc sống ai cũng phải làm việc bằng khả năng này hay khả năng khác; không một ai có thể lãng phí món quà mà Thiên Chúa đã trao cho. Vì thế, Gioan quyết tìm mọi cách để được quay trở lại trường

21 học và chống lại mọi cám dỗ làm cho bản thân lười biếng. Sau gần một năm nghỉ học, chúng ta lại bắt gặp cậu trở lại trường. Kể từ đó, Gioan không bao giờ cho phép bản thân bị dao động bởi những điều phù phiếm hay dễ dãi của chính mình.

22 Khi Gioan 12 tuổi, cậu cùng cha mẹ đi đến thành phố Nowy Sacz, cách nha khoảng 13 km. Vì quá bận rộn với việc mua bán nên cha mẹ cậu để lạc mất con giữa đám đông. Ông bà bối rối lo lắng tìm con nơi những người bạn và bà con thân thuộc. Tất cả đều vô ích, ông bà vẫn không tìm thấy con. Mặc dù lo lắng nhưng hai ông bà quyết định trở về vì tin rằng Gioan có thể tự về nhà an toàn. Trong khi đó, Gioan lạc lõng ở khu chợ đông đúc. Trong luc bối rối không biết làm sao thì cậu may mắn thấy một người họ hàng và người này đã đưa Gioan về nhà mình vào tối hôm đó. Sáng hôm sau, cậu van xin người họ hàng đưa đến lớp học địa phương ở Thành phố Nowy Sacz, nơi có một giáo viên nổi tiếng khắp vùng giảng dạy. Ngay lập tức, Gioan cảm thấy ngôi trường này sẽ giúp cậu nhiều hơn lớp học ở quê. Vì thế, cậu xin cha mẹ được học tại đây. Thật không may cho cậu, tuy giáo viên là một thầy giáo giỏi nhưng lại là một con người suy đồi đạo đức và mang nhiều tai tiếng xấu với học sinh. Khi ông muốn quan hệ đồng tính, Gioan đã thẳng thừng từ chối. Cậu thà bỏ học ở đây còn hơn phạm tội ghê tởm. Cậu quyết định trốn về nhà nhanh nhất có thể. Khi đến bờ sông Dunajec, cậu không chờ người lái đò mà tự chèo đò qua sông.

23

24 Tuy nhiên, khi Gioan về đến nhà, ông Tôma lại không tin vào những lời nói của con mình vì nghĩ rằng đó chỉ là một quyết định nông nổi. Ông bắt cậu trở lại trường. Nhưng lần này, cậu cũng không ở lại được lâu. Gioan bị đuổi học sau khi cố giúp anh trai đánh lộn với một học sinh khác. Cậu trở về nhà, ông Tôma lại sai đi chăn cừu. Sau một thời gian, cha mẹ nhận thấy sự thông minh và lanh lợi của con trai nên gửi cậu đến học tại thành phố Jaroslaw (cách nhà khoảng 160 km), thay vì để cậu tiếp tục học tại trường ở quê, nơi không thể cung cấp đủ kiến thức cho cậu. Chuyến hành trình dài như thế này thực sự chưa từng thấy với đứa trẻ chỉ mới 15 tuổi. Gioan rời khỏi nhà, biết rằng mình sẽ không thể gặp gia đình và bạn bè trong khoảng thời gian dài. Cùng với người anh họ, cậu tới Jaroslaw vào đầu tháng 6 năm 1646. Gioan được nhận vào trường Dòng Tên, một trong rất ít trường nhận cả học sinh thuộc giới quý tộc và giới bình dân. Ở ngôi trường này, việc học của cậu diễn ra cách rất thuận lợi. Tuy nhiên, Thiên Chúa quan phòng lại định liệu cho cậu theo hướng đi khác. Vào cuối tháng tám, sau kì nghỉ hè, Gioan không còn ở tại thành phố Jaroslaw nữa. Được gia đình cho một số tiền lớn, lại thêm tuổi trẻ ham chơi, cậu rủ một số bạn học tìm đến ngôi trương khác xa hơn thuộc Dòng Tên ở thành phố Lvov (ngày nay thuộc Ukraina).

25

26 Chuyến đi Lvov không mang lại kết quả như mong đợi. Gioan không được nhận vào trường vì cậu chuẩn bị quá sơ sài và thiếu một số chứng chỉ cần thiết. Tuy nhiên, cậu vẫn tiếp tục ở lại Lvov. Khi không còn một xu dính túi, cậu phải kiếm sống bằng cách làm gia sư cho hai đứa con trai của một gia đình ở thành phố. Cùng lúc, cậu cũng cố gắng lấp đầy những lỗ hổng kiến thức của mình. Trong khoảng một năm rưỡi, Gioan tự kiếm sống bằng sức mình. Nhưng sau đó, vào mùa hè năm 1648, tình cảnh đột nhiên trở nên xấu đi cho cả cậu và Vương quốc Ba Lan. Cuộc nổi dậy của dân tộc Cossack do Khmelnicki lãnh đạo bắt đầu ảnh hưởng đến các vùng lãnh thổ phía Đông Vương quốc Ba Lan. Chẳng bao lâu, chiến tranh mang chết chóc và dịch bệnh tràn lan vùng biên giới thành phố Lvov. Một ngày nọ, cậu bị sốt cao va bi co giật. Phải gồng mình chống lại cơn bệnh quái ác này trong bốn tháng liền, cậu xơ xác tiều tụy. Cậu may mắn được bà chủ nhà tốt bụng chăm sóc và thuốc thang tận tình nên cơn sốt được đẩy lùi. Nhưng di căn của nó đã làm cho mụn nhọt và ghẻ chốc nổi lên khắp người. Bà chủ nhà không thể chịu nổi và đành phải đuổi cậu ra khỏi nhà. Sức khỏe vẫn còn yếu ớt vì bệnh sốt, Gioan phải lang thang đi ăn xin trên khắp mọi nẻo đường ở thành phố Lvov. Cậu đau khổ rất nhiều, cả về thể xác lẫn tinh thần. Nhưng như mọi khi, mỗi lúc gặp nguy nan đau khổ, cậu đều tìm thấy được sự an ủi trong lời cầu nguyện.

27

28 Thiên Chúa nhân lành không bỏ rơi cậu. Gioan gặp được một số người tốt bụng và nhân hậu sẵn sàng đón cậu về nhà và chăm sóc tận tình. Lạ thay, những chú chó trong nhà thường xuyên liếm vết ghẻ chốc trên thân hình Gioan. Điều này khiến cho vết thương của cậu dần dần được chữa lành cách kì diệu. Vào tháng 2 năm 1649, một số người từ làng quê Gioan lên thành phố Lvov để buôn bán trước mùa Chay. Họ tìm gặp được Gioan và gửi cho cậu một số tiền nhỏ từ gia đình. Khi trở lại Podegrodzie, họ nói lại cho ông Tôma nghe về tình trạng sức khỏe của con trai mình. Vì tuổi già sức yếu nên ông Tôma không thể tự mình đi đến Lvov được mà phải nhờ một người trong làng lên để đón cậu về. Trên đường trở về, cậu lại một lần nữa bị sốt nặng. Về đến nhà, cậu được gia đình đón mừng trong nước mắt yêu thương. Được mẹ chăm sóc ân cần, Gioan bình phục nhanh chóng. Đến mùa hè năm 1649, cậu hoàn toàn khỏe mạnh và bắt đầu chuẩn bị cho công việc học tập dang dở của mình. Trước khi Gioan theo học tại thành phố Jaroslaw và thành phố Lvov vào năm 1646, cậu có thể đã từng biết đến trường học của Dong Linh muc Piarist ở thành phố Podoliniec (chỉ cách nhà khoảng 58 km). Tuy nhiên, Gioan không thể theo học ở đây được mà phải đi học xa hơn vì lúc bấy giờ trường không có lớp dành cho cậu. Còn bây giờ, cậu có thể học tại đây vì chỉ ít lâu sau khi cậu đến Lvov, nhà trường Podoliniec đã mở thêm lớp học mà cậu muốn.

29

30 Năm 1649, Gioan trúng tuyển vào trường học của Dong Linh muc Piarist ở Podoliniec. Đến năm 1650, cậu kết thúc chương trình trung học phổ thông ở đây. Gioan chuẩn bị bắt đầu học ngành nhân văn ở một trường Đai hoc trong thành phố này. Tuy nhiên, một cơn đại dịch bùng phát đã làm thay đổi tất cả. Trường học đóng cửa, cậu sinh viên trẻ một lần nữa phải quay trở về gia đình. Mặc dù, gia đình cậu không giàu nhưng họ có đầy đủ những gì cần thiết trong đời sống hằng ngày. Khi ông Tôma sai con mình đi chăn cừu, ông không nghĩ đến những lợi tức thu được từ công việc hơn là muốn tôi luyện đứa con của mình thành một con người sống có kỷ luật và nhân bản (“Ai không chịu làm thì cũng đừng ăn” (2 Tx 3,10)). Chắc chắn, đi chăn cừu không phải là công việc thích hợp dành cho một sinh viên mới tốt nghiệp trung học phổ thông, nhưng Gioan là một đứa con khiêm nhường và hằng vâng lời cha mẹ. Nhiều năm trôi qua, khi nhớ lại quãng thời gian chăn cừu trên những đồng cỏ xanh bát ngát, cậu không ngừng tạ ơn Thiên Chúa vì cha mẹ đã cho cậu đi chăn cừu, được tự do đi lang thang trên những đồng cỏ, ngắm nhìn những chú cừu trắng. Điều đó một phần nào đã giúp Gioan giữ gìn được sự trong sạch của tâm hồn. Sau mùa hè năm 1650, Gioan trở lại thành phố Lvov khi biết mình được nhận vào trường Đai hoc Dòng Tên. Ở ngôi trường này, cậu vinh dự và tự hào hoàn thành chương trình năm đầu tiên của ngành khoa học nhân văn.

31 Vào tháng 5 năm 1652, khi Gioan đang học năm hai môn hùng biện tại trường, quân Cossack xâm chiếm thành phố Lvov. Cũng như những người khác trong thành phố, Gioan di tản về phía Tây trung tâm của Vương quốc Ba Lan. Vào thời điểm này, trường Đai hoc Dòng Tên cũng đa co cơ sơ tại thành phố Rawa, thuộc vùng Mazovia (đây là vùng nằm ở trung tâm Vương quốc Ba Lan). Ở đây, Gioan được an toàn, cũng như có cơ hội để tiếp tục việc học. Thực vậy, ở Rawa, chỉ trong vòng ba năm, cậu đã hoàn thành chương trình triết học và hùng biện.

32 Ở Rawa, các tu sĩ Dòng Tên có một khu vườn gần trường Đai hoc. Đây là nơi mà Gioan đã có khoảng thời gian tuyệt vời cùng các bạn cùng lớp. Chàng sinh viên trẻ là một người đạo đức và có đời sống đức tin sâu sắc. Ngoài việc học tập chăm chỉ hằng ngày, vào giờ giải lao, cậu thường làm việc trong khu vườn nhằm rèn luyện và phát triển nhân cách cũng như ý hướng của bản thân. Với lòng sốt mến ấy, Gioan gia nhập Hiệp hội Đức Mẹ. Các giờ sinh hoạt và cầu nguyện của hiệp hội nhằm tôn sùng Đức Trinh Nữ Maria làm gia tăng tình yêu và sự tôn kính của Gioan dành cho Đấng Vô Nhiễm Nguyên Tội. Những hoa trái của thời gian này sẽ được biểu lộ vào những năm sau đó khi Gioan là một tu sĩ.

33 Vào năm 1654, chàng sinh viên năm nào giờ đây đã tốt nghiệp chương trình triết học ở Rawa. Thời gian rời mái trường thân yêu cũng đã đến. Với lòng biết ơn và tri ân, cậu nói lời chia tay các cha Dòng Tên. Các cha đã tạo điều kiện cho cậu có một nền giáo dục tốt. Mặt khác, tại mái trường này, cậu đã lãnh nhận được nhiều kho tàng của đời sống thiêng liêng là một đức tin sâu sắc, một lòng đạo đức sốt mến và một nền luân lý Công giáo.

34 Ở tuổi 23, Gioan bây giờ đã là một chàng trai trưởng thành với sự hiểu biết sâu xa hơn về ý nghĩa thiết yếu của cuộc sống. Nhờ vậy, cậu đã sẵn sàng đưa ra quyết định cho tương lai của mình, đặc biệt là đáp lại lời mời gọi của Thiên Chúa. Đối với một chàng trai trẻ có trình độ học vấn cao như Gioan, thì việc tìm được một công việc tốt khá là dễ dàng, chẳng hạn, một chức vụ trong thành phố, hay trong các tòa án của giới quý tộc. Tuy nhiên, định hướng cho tương lai của cậu lại khác xa với những công việc này. Để đưa ra quyết định cho hành trình mới, Gioan muốn trở về gặp mẹ ở Podegrodzie. Cha của cậu mất hai năm trước khi Gioan hoàn thành chương trình Đai hoc. Đây cũng là lý do cậu trở về thăm nhà để cầu nguyện trước phần mộ của cha, và an ủi nỗi đau người mẹ. Ngoài ra, đó là dịp để cậu nói lời cảm ơn đến mẹ vì bà đã hy sinh giúp đỡ cho việc học tập của cậu được như ngày hôm nay, đặc biệt là sau khi ông Tôma qua đời.

35 Dĩ nhiên, gia đình rất đỗi hạnh phúc đón cậu trở về trong vòng tay yêu thương. Cậu ở lại với gia đình một thời gian. Hàng xóm, bạn bè và người thân cậu đều nghĩ rằng cậu sẽ sớm có được một chức vị trong một thành phố, hay trong tòa án nào gần đó, rồi sẽ suy nghĩ nghiêm túc về việc lập gia đình và ổn định cuộc sống. Thực tế, họ thậm chí đã mai mối cho cậu một cô gái xinh đẹp, đức hạnh và xuất thân từ một gia đình khá giả trong vùng. Gioan đã làm cho tất cả mọi người phải ngỡ ngàng khi dứt khoát từ chối tất cả những đề nghị hấp dẫn này. Cậu đang được cuốn hút theo một lý tưởng khác cao cả hơn mọi lý tưởng trong cuộc sống. Trong thời gian ở nhà, cậu luôn giữ mình khỏi những thú vui của thế gian. Thay vì vui chơi cùng bạn bè thì cậu tìm đến những nơi thanh vắng để cầu nguyện. Cậu tìm thấy niềm vui khi chiêm nghiệm những chân lý của Nước Trời, và đắm chìm trong tình yêu của Thiên Chúa.

36 Mặc dù ít ai nhận ra rằng Gioan sẽ theo ơn gọi linh mục, nhưng thực sự cậu đã suy nghĩ rất nghiêm túc về việc lựa chọn của mình. Với lòng khao khát được nên hoàn thiện, có lẽ ngay ở tuổi mười chín khi còn ở Podoliniec, Gioan đã quyết định gia nhập Dong Linh muc Piarist và dâng mình để phục vụ Chúa Kitô và Đức Mẹ. Ơn gọi này đã đồng hành cùng Gioan đến Lvov và Rawa Mazowiecka. Giờ đây khi ở nhà, việc học đang còn dở dang lại khiến cho Gioan phải bồn chồn xao xuyến. Cậu biết được rằng mình không thể ở nhà với mẹ và gia đình lâu hơn được nữa. Quả thực, tiếng Chúa gọi trong cậu quá mạnh mẽ. Cuối cùng, ngày Gioan chờ đợi đã đến. Cậu xa rời người mẹ yêu quý, gia đình, bạn bè và ngôi nhà thân yêu để vượt qua núi rừng hiểm trở đến vùng Podoliniec và vào Dong Linh muc Piarist. Podoliniec không xa lạ với Gioan, vì cậu đã từng là sinh viên trường Đai hoc của Dòng Piarist. Chính nơi ấy Gioan đã có nhiều cơ hội được quan sát và thêm lòng ngưỡng mộ trước cuộc sống và lòng nhiệt thành của các vị linh mục Piarist: Tình yêu của họ gắn liền với đức khó nghèo, lòng đạo đức và sự cống hiến vô vị lợi trong việc giáo dục và đào tạo thanh thiếu niên, đặc biệt là người trẻ gặp khó khăn. Thật vậy, đời sống của Dòng Piarist hẳn đã có một sức hút mãnh liệt nào đó đối với Gioan, để có thể sau bốn năm học tại các trường Đai hoc Dòng Tên mà cậu vẫn quyết định trở lại Podoliniec để gia nhập Dong Linh muc Piarist. Ngày 2/7/1654, Gioan vào tập viện, khoác trên mình chiếc áo dòng và được gọi là Stanislaô Giêsu Maria Papczynski.

37

38 Cũng như ngày nay, tập viện là khoảng thời gian thử luyện của các tập sinh. Cha Giám Tập của thầy Stanislaô là linh mục Gioan Francô Thánh Giá - một người đạo đức thánh thiện. Thầy Stanislaô luôn tuân theo chương trình đào tạo của tập viện, tự đào luyện bản thân bằng đời sống cầu nguyện, suy niệm, đọc sách thiêng liêng, hãm mình và hoàn toàn vâng phục bề trên. Ngay từ những ngày đầu, tập sinh Stanislaô đã có đời sống đức hạnh trổi vượt hơn cả những người đã ở trong cộng đoàn lâu năm, qua việc biểu lộ tình yêu và việc luyện tập các nhân đức của một tu sĩ. Thầy đảm nhận tất cả mọi công việc, dù là những việc nhỏ nhặt và tâm thường nhất như lau dọn nhà kho, chuồng ngựa, chẻ củi và rửa chén,... Vào những ngày lạnh giá nhất của mùa đông khi nhiệt độ giảm xuống tới mức âm 20 độ C, thầy được sai đi lấy nước với đôi bàn tay thô ráp, nứt nẻ và tê cóng. Sau khi kết thúc năm đầu tập viện, Stanislaô được sai đến Vacsava (thủ đô nước Ba Lan) để tiếp tục thời gian tập sự và bắt đầu học thần học. Ngày 21/7/1655, bốn ngày sau khi Stanislaô rời khỏi Podoliniec, quân đội Thụy Điển vây hãm Vương quốc Ba Lan. Đội quân Tin Lành tiến sâu vào vùng đất Công giáo, đi đến đâu chúng càn quét tất cả như lũ bão.

39

40 Không lâu trước đó, thủ đô Vacsava rơi vào tay địch. Tất cả bị tàn phá dữ dội, đặc biệt là các tu viện và nhà thờ. Các nhân chứng kể lại rằng “trên khắp các tuyến đường của thủ đô, quân đội Thụy Điển có thể giết hại bất cứ người nào chúng muốn mà không bị ai buộc tội”. Một ngày nọ, trên con đường từ Học Viện Phanxicô trở về nhà dòng tại Vacsava, thầy Stanislaô cùng với một thầy người Đức khác - tên là Giuse - gặp một người lính Thụy Điển. Khi thầy Stanislaô cố gắng bảo vệ Đức tin Công Giáo thì sát khí của tên lính bùng lên cùng với thanh gươm trên tay, thầy Giuse sợ hãi chạy trốn, còn thầy Stanislaô quyết định ở lại với ước muốn được tử đạo vì đức tin. Thầy quỳ xuống và giương cổ dưới thanh gươm sắc bén của tên lính. Lúc mà mọi sự tưởng chừng như đã kết thúc, và cái chết dường như đang đến trong giây lát, thì bất ngờ bàn tay Thiên Chúa đã can thiệp. Mặc dù thầy bị chém ba nhát nhưng không hề để lại vết thương nào. Lúc sau, sự đau đớn tan biến đi và ước muốn được tử đạo đã không thành. Hoàn cảnh lúc đó làm cho việc học trở nên khó khăn hơn. Không biết thầy đã hoàn thành chương trình thần học như thế nào, nhưng chúng ta biết rằng thầy Stanislaô bắt đầu học thần học từ năm 1655, dưới sự hướng dẫn của các cha dòng Phanxicô tại Tu viện thanh Antôn. Sau tháng 4 năm 1656, các tu sĩ dòng Piarist rời khỏi thành phố Vacsava. Thầy Stanislaô cũng đã rời thành phố trong thời gian này.

41

42 Vào ngày 22/7/1656, khi quân xâm lược tạm thời bị đánh đuổi ra khỏi thủ đô Vacsava, thầy Stanislaô tuyên khấn dòng và ngay sau đó không lâu thầy được lãnh nhận chức vụ Phụ phó tế. Đầu tháng 8 năm 1656, cuộc bách hại đạo ngày càng gia tăng và dịch bệnh mỗi lúc mỗi nghiêm trọng ở thủ đô Vacsava. Thầy Stanislaô cùng với một số anh em khác trong cộng đoàn Piarist đã chạy trốn khỏi thành phố. Sau một thời gian ngắn dừng chân ở Podoliniec, vào cuối tháng 9 năm 1656, thầy lên đường đi đến cộng đoàn Dòng Piarist mới được thành lập tại Rzeszow. Nhưng đến tháng 2 năm 1657, thành phố này cũng bị đánh chiếm, và một lần nữa thầy Stanislaô lại phải trở về Podoliniec.

43 Ở đây, thầy Stanislaô được bổ nhiệm làm giảng viên môn hùng biện tại chính ngôi trường mà thầy đã từng theo học bảy năm trước. Thầy Stanislaô giảng dạy và đào tạo sinh viên theo giáo trình do chính mình soạn thảo. Quyển sách có tựa đề: “Nữ Hoàng Nghệ Thuật” (Regina Artium). Một phần của quyển sách được xuất bản vào năm 1663 dưới tựa đề “Tiền Thân của Nữ Hoàng Nghệ Thuật” (Prodromus Reginae Artium). Với tình yêu nồng cháy dành cho Đức Maria Vô Nhiễm Nguyên Tôi, thầy đã dâng quyển sách đầu tiên được xuất bản cho Đức Trinh Nữ Maria, với lời nguyện: “Dâng lên Mẹ của Ngôi Lời vĩnh cửu, dâng lên Đức Trinh Nữ Maria chẳng vướng bơn nhơ, con Stanislaô đã tuyên giữ lời khấn nghèo khó, nguyện xin dâng Mẹ quyển sách “Tiền Thân của Nữ Hoàng Nghệ Thuật” này.” Việc dâng hiến kết thúc bằng lời khẩn cầu: “Lạy Mẹ là Đấng khôn ngoan hết mực thuần khiết xin dạy chúng con cách sống tốt và nói những điều ngay thật.”

44 Năm 1660, Bề trên chuyển thầy Stanislaô đến dạy tại trường Đai hoc ở Rzeszow. Ở đây, thầy được bổ nhiệm làm giảng viên môn hùng biện. Dẫu giảng dạy, nhưng thầy Stanislaô vẫn dành thời gian để hoàn thành chương trình thần học của mình. Vào năm 1661, thầy được Đức Giám mục Stanislaô Sarnowski giáo phận Przemysl truyền chức phó tế, và thánh chức linh mục. Ngoài chức vụ giảng viên Đai hoc, giờ đây, cha Stanilaô còn là một nhà giảng thuyết. Chủ đề bài giảng thuyết đầu tiên của cha mang tên: “Ngợi khen Đức Maria, Mẹ Thiên Chúa, Trọn đời đồng trinh.” Một số lời trong bài giảng được tìm thấy như sau: “Tình yêu của Đức Trinh Nữ Maria dành cho chúng ta tỏa sáng tuyệt vời làm sao ở nơi đây! Tình yêu cao siêu mà Mẹ đã tỏ cho chúng ta thấy! Còn gì phải lo lắng cho ơn cứu độ của chúng ta! Ai trong phàm nhân chúng ta nào lại không cố gắng, bằng mọi cách trong khả năng của mình để yêu mến, tôn kính Mẹ, Người đã giúp đỡ chúng ta rất nhiều? Vậy thì hãy bắt tay vào công việc ngay, đừng từ bỏ bất cứ việc tốt lành nào có thể làm để tôn kính Đức Trinh Nữ Maria.” Vào năm 1663, cha Stanislaô được chuyển đến thành phố Vacsava, nơi mà không lâu sau đó cha được biết đến như là một vị giảng thuyết. Bài giảng thuyết của cha Stanislaô vào ngày 7 tháng 3 năm 1664 được xuất bản với tựa đề “Vị Tiến sĩ Thiên Thần” (Doctor Angelicus).

45

46 Ngay khi còn là một linh mục trẻ và là cha giải tội, cha Stanislaô đã bộc lộ những đức tính phi thường nơi tâm hồn và trái tim nhiệt huyết, nên cha đã thu hút rất nhiều hối nhân đến với tòa giải tội. Trong những hối nhân này có cả giám mục và nhiều thành viên khác thuộc Thượng nghị viện Ba Lan. Trước hết, cần nói đến vị thượng nghị sĩ thường xuyên lui tới tòa giải tội của ngài vào thời điểm này là hoàng đế tương lai của Ba Lan, Gioan Sobieski III, khi ông và quân đội mình đánh thắng trận chiến Vienna (thủ đô nước Áo) chống lại Hồi Giáo vào năm 1683. Nhờ đó, Đức tin Công Giáo được giữ vững trên toàn cõi Châu Âu. Để kỷ niệm trận thắng lạ lùng này, Đức Giáo hoàng Innocente XI đã tuyên bố cử hành Thánh lễ dâng kính Thánh Danh Đức Maria vào ngày 12 tháng 9 hằng năm. Cũng có một số bằng chứng cho rằng, cha Stanislaô cũng là cha linh hướng và giải tội của giám mục Antôn Pignatelli, Đại diện Tòa Thánh tại Vương quốc Ba Lan (1660 - 1668), sau trở thành Giáo hoàng Innocente XII.

47 Theo truyền thống, trong khoảng thời gian này cha Stanislaô là người điều hành Hiệp hội Đức Mẹ Ân Sủng tại thủ đô Vacsava (Ba Lan). Trong đại dịch xảy ra tại Ba Lan vào năm 1664, theo lời thỉnh cầu của giáo dân địa phương, Đức Mẹ Ân Sủng được chọn làm Bổn mạng của Vacsava. Có thể cho rằng cha Stanislaô và Hiệp hội mà ngài đang dẫn dắt đã có ảnh hưởng nhiều đến quyết định này vì chính xác Hiệp hội được thành lập với mục đích cầu xin Đức Mẹ Ân Sủng giữ gìn thành phố khỏi ôn dịch, bệnh tật và mọi tai họa. Cha Stanislaô thường xuyên khích lệ thành viên trong Hiệp hội chu toàn sứ vụ căn bản này khi họ quây quần cầu nguyện bên linh ảnh Đức Mẹ “Ân Sủng”. Hơn thế nữa, ngoài hoạt động mục vụ hằng ngày, cha còn có trách nhiệm giảng dạy tại trường Đai hoc Dong Linh muc Piarist ở Vacsava. Tất cả đã chiếm hầu hết thời gian và sức lực của cha. Từ những nỗ lực liên lỉ đó, cha đã sớm nổi tiếng, được nhiều người ngưỡng mộ và kính trọng.

48 Tài năng sẵn có và năng lực của cha chắc chắn được nhìn nhận nơi cộng đoàn. Hơn thế nữa, cha còn có đời sống thiêng liêng sâu sắc, trưởng thành trong đời sống nội tâm và kiên trì phấn đấu vì sự thánh thiện. Thật vậy, chúng ta không thể cho người khác những gì mình không có “Nemo dat quod non habet.” Cha Stanislaô luôn ý thức được điều đó. Để công việc mục vụ ngày càng vững mạnh và đem lại nhiều hoa trái hơn, ngài không ngừng cầu nguyện, học hỏi và đảm nhận các công việc trong cộng đoàn. Ngài đã được đào luyện trong một môi trường thánh hiến nghiêm khắc dựa trên hiến pháp của Cha Tổ phụ Dòng Piarist, thánh Giuse Calasanz. Cha Stanislaô luôn yêu mến và sống theo hiến pháp ấy hơn ai hết. Vì thế, cha đã phản đối lại bất cứ ai và bất cứ điều gì nhằm làm nhẹ hiến pháp này. Cha luôn luôn cố gắng trung thành với lối sống nghèo khó, can đảm và nhiệt thành giữ gìn luật dòng. Ngài đã gặp nhiều khó khăn trong việc bảo vệ lề luật ấy vì lợi ích của Tỉnh Dòng Piarist tại Ba Lan.

49 Không phải bất cứ ai trong Tỉnh Dòng cũng đồng tình với cha Stanislaô trong việc tuân giữ luật dòng. Vì thế, sự xung đột nghiêm trọng đã xảy ra, ngay cả với các vị bề trên. Khi nghe tin ấy, Bề trên Tổng quyền đã cho gọi cha Stanislaô đến Rôma vào mùa thu năm 1667 để điều trần. Hành trình đến Rôma ngày ấy thật gian nan, khốn khó và nguy hiểm. Nhiều người khuyên thánh nhân không nên đi. Tuy nhiên, ngài không hề do dự trong quyết định của mình. Ngài đã viết trước khi bắt đầu hành trình như sau: “Con xin vâng phục lời yêu cầu này với đầy lòng tôn trọng, sự khiêm nhường và sẵn sàng, không chút do dự vì tình yêu dành cho Thiên Chúa và Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta, cùng với sự tôn kính Đức Trinh Nữ Maria,... Con khao khát Thiên Chúa được tôn vinh qua hành trình của con, được thực hiện vì sự vâng lời, như qua cuộc thương khó của Chúa Giêsu Kitô và nỗi thống khổ của Đức Trinh Nữ Maria.” Lòng đầy thần khí của đức tin và tình yêu, cha Stanislaô lên đường đến Rôma.

50 Cha Cosmas Chiara, Bề trên Tổng quyền Dong Linh muc Piarist đã chân thành đón tiếp Cha Stanislaô khi ngài đến và ở Rôma trong khoảng vài tuần. Sau khi lắng nghe lời giải trình của cha Stanislaô, cha Tổng quyền nhìn nhận hành vi của cha ở Ba Lan là hoàn toàn chính đáng và cho phép trở về Ba Lan. Tuy nhiên, trước khi cha Stanislaô rời khỏi đó, cha Tổng quyền nhận được bản phúc trình từ Hội nghị Tỉnh Dòng Piarist tổ chức tại Ba Lan. Trong bản phúc trình này, cha bị cáo buộc là một “người gây chia rẽ” nguy hiểm trong Tỉnh Dòng. Vì vậy, cha Tổng quyền thay đổi quyết định và chuyển ngài đến thành phố Nikolsburg (Nước Moravia, thuộc Tỉnh Dòng Đức). Vài tháng sau, cha Giám tỉnh Nikolsburg cho phép cha Stanislaô trở về Ba Lan. Sự trở về của ngài làm xáo động trong Tỉnh Dòng. Năm 1669, vị đại diện Tòa Thánh yêu cầu cha Bề trên Tỉnh Dòng và cha phụ tá phải kiểm tra lại những lời cáo buộc cha Stanislaô và tuyên bố hành vi của ngài không phải là hành vi chia rẽ mà là do lòng nhiệt tâm. Lòng nhiệt thành của cha vẫn không được Bề trên và nhiều thành viên trong Tỉnh Dòng (đặc biệt là những thành viên không phải là người Ba Lan) đón nhận. Cha Stanislaô nhận thấy những nỗ lực của ngài dường như không có kết quả và cảm thấy lương tâm không thể chấp nhận tình trạng như thế trong cộng đoàn (được cha giải thích chi tiết trong lời biện hộ của mình). Ngài thấy không còn lựa chọn nào khác tốt hơn ngoài việc xin được rời khỏi Dòng vì phần rỗi cho mình và vì lợi ích cho Tỉnh Dòng.

51

52 Mùa thu năm 1669, Dong Linh muc Piarist được Tòa Thánh nâng lên dòng đan tu với lời khấn trọng thể. Tuy nhiên, tất các tu sĩ được tự do lựa chọn khấn hay không. Cha Stanislaô biết trước mình sẽ rời đi và đã quyết định không tuyên khấn trọng. Cha tin rằng quyết định này sẽ không buộc cha phải phụ thuộc vào các bề trên Dòng Piarist nữa. Sau cùng, cuối năm 1669, cha gia nhập linh mục đoàn và thuộc quyền Đức Giám mục địa phận Cracow, Đức cha Anrê Trzebicki. Tuy nhiên, cha Giám tỉnh vẫn bắt ép ngài phải chuyển đến cộng đoàn Dòng Piarist ở Kazimierz, gần thành phố Cracow, sau đó tiếp tục chuyển đến Podoliniec và cuối cùng chuyển đến Priewidza, Nước Tiệp Khắc (Vì nơi này không thuộc quyền của Đức Giám mục Cracow). Tại đây, ngài bị giam giữ trong nhà tù đan viện khoảng ba tháng. Trong khoảng thời gian đau khổ và cô độc này, cha Stanislaô đã được Thiên Chúa linh hứng để sáng lập một dòng tu mới - mang tên Dong Linh muc Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội, một nhiệm vụ, một ơn gọi mà ngài chỉ có thể thực hiện được sau khi rời khỏi dòng Piarist.

53

54 Đức Giám mục địa phận Cracow đã mạnh mẽ đứng ra bảo vệ cha Thánh Stanislaô và lên án hành vi tự ý thuyên chuyển cha Stanislaô của vị Bề trên. Có thể điều này đã làm cho cha Bề trên cộng đoàn Priewidza quyết định để cha Stanislaô được tự do mà không cần bàn bạc với Bề trên Tỉnh Dòng. Cha Stanislaô trở về giáo phận Cracow sau khi rời khỏi nhà tù của tu viện vào tháng 4 năm 1670. Một thời gian sau, trường hợp của cha Stanislaô được xem xét trước tòa án giáo phận, trước những bằng chứng xác thực, Đức cha Micae Oborski - Giám mục phụ tá giáo phận Cracow - tuyên bố rằng không có một điều gì để biện minh cho việc giam giữ cha Stanislaô vì “ngài hoàn toàn vô tội.”

55 Trong khi đó, cái chết của Đức Giáo hoàng Clemente IX và sự chậm trễ trong việc bầu chọn người kế vị đã làm trì hoãn việc rời Dòng Piarist của cha Stanislaô. Vào tháng 10 năm 1670, Vị Giáo hoàng mới được bầu chọn (Clemente X) cho tất cả các thành viên chưa nhận lời khấn trọng thể được phép rời khỏi dòng. Vào ngày 24 tháng 10 năm 1670, Bề trên Tổng quyền Dong Linh muc Piarist viết thư gửi Đức Giám mục giáo phận Cracow về việc tháo gỡ lời khấn dòng cho cha Stanislô.

56 Mặc dầu, việc tháo gỡ lời khấn được đưa ra nhưng mãi đến ngày 11 tháng 12 năm 1670, cha Stanislaô mới chính thức được tháo gỡ trước sự hiện diện của cha Micae Kraus, Phó Bề trên Tổng quyền Dong Linh muc Piarist. Kết thúc nghi thức tháo gỡ lời khấn, cha Stanislaô bắt đầu giai đoạn mới của cuộc đời bằng lời khấn tận hiến Oblatio (Đây được xem như là điểm khởi đầu của Dong Linh muc Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội): “Nhân danh Chúa Giêsu Kitô chịu đóng đinh. Amen. Con, Stanislaô Giêsu Maria Papczyński, con ông Tôma ở Podegrodzie thuộc giáo phận Cracow, 40 tuổi. Nguyện xin thánh hiến cho Thiên Chúa Cha Toàn Năng, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, cùng với

57 Đức Trinh Nữ Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội, với tất cả trái tim, tâm hồn, lý trí, trí nhớ, ý muốn, tình cảm và mọi sự trong ngoài con. Con nguyện từ bỏ tất cả, không có gì là của riêng con. Qua đó, con có thể trở nên một tôi tớ hèn mọn của Thiên Chúa Toàn Năng và của Đức Trinh Nữ Maria. Vì thế, con xin tuyên khấn sẽ trọn đời trung thành và nhiệt tâm phục vụ Thiên Chúa và Mẹ Maria trong Dong Linh muc Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội (nhờ ân sủng của Thiên Chúa, con sáng lập). Con cũng xin hứa sẽ thay đổi cuộc sống của bản thân theo Hiến Pháp, Quy chế, Nghi thức của Hội Dòng; con sẽ không bao giờ hành động hay cho phép hoặc chấp nhận dù trực tiếp hay gián tiếp việc thay đổi hay bãi bỏ Hiến pháp Dòng dưới mọi hình thức, ngoại trừ những trường hợp thật sự cần thiết và nghiêm trọng. Hơn nữa, con xin hứa sẽ vâng lời Đức Thánh Cha, vị Đại diện của Chúa Giêsu Kitô, và các vị đại diện của Tòa Thánh cũng như các bề trên trực tiếp và gián tiếp của con. Con xin hứa sẽ không giữ gì cho riêng con nhưng tất cả đều là của chung. Con tuyên xưng rằng con tin tất cả những gì mà Hội Thánh Công Giáo tin và tất cả những điều Hội Thánh sẽ dạy cho hết thảy mọi người. Đặc biệt, con tuyên xưng Đức Maria Mẹ Thiên Chúa được thụ thai mà không hề vướng tội tổ tông truyền, con xin hứa sẽ loan truyền và bảo vệ Danh dự Mẹ bằng cả mạng sống con. Xin Thiên Chúa và Tin Mừng của Ngài giúp đỡ con.”

58

59 Từ lời khấn tận hiến Oblatio, cha Stanislaô đã luôn giữ cho nội tâm và ý hướng trung thành với lời tuyên khấn, mặc dù về mặt pháp lý, ngài đã thuộc linh mục đoàn giáo phận. Trải nghiệm này đối với cha không hề dễ dàng gì. Những nghi ngờ và nỗi sợ hãi đột nhiên xuất hiện trong tâm trí cha. Thậm chí có lúc ngài nghĩ đến việc trở lại Dong Linh muc Piarist, chỉ cần họ sẵn sàng quay lại với tinh thần nghèo khó thuở ban đầu theo ý Đấng sáng lập, cha Giuse Calasan, và đảm nhận sứ vụ loan truyền mầu nhiệm Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội. Trong kế hoạch của Thiên Chúa, việc “Thanh tẩy huyền nhiệm” linh hồn của thánh nhân rõ ràng là rất cần thiết để hoàn thành “con đường thập giá” và chuẩn bị cho một sứ mệnh trọng đại là thành lập một dòng tu mới. Những thách đố trong ơn gọi mới của cha Stanislaô là việc một số giám mục hứa ban những chức vụ và lợi ích cho ngài trong giáo phận. Tuy nhiên, cha biết những điều này sẽ là những trở ngại cho con đường mà cha đang thực hiện. Do đó, cha kiên quyết từ chối tất cả những lời đề nghị trên. Cha chỉ đảm nhận (theo Luật Giáo Hội hiện hành) trách nhiệm tuyên úy cho Tổng Hội Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội ở nhà thờ thanh Giacôbê gần thành phố Cracow. Cha đã ở đó một thời gian ngắn.

60 Tuy nhiên, ngài không đảm nhiệm công việc ấy được lâu. Vì cha Stanislaô nhận thấy không có cơ hội để thành lập một cộng đoàn dòng tu tại giáo phận Cracow (miền Nam, Ba Lan) nên mùa hè năm 1671, ngài quyết định rời bỏ nơi này để đến giáo phận Poznan, miền Trung Ba Lan. Tại thời điểm đó, giáo phận Poznan là một vùng đất khá rộng lớn, bao gồm thủ đô Vacsava là nơi có tòa giám mục. Đức Giám mục Têphanô Wierzbowski, vị chủ chăn của giáo phận, đã niềm nở chào đón cha Stanislaô và hứa sẽ giúp đỡ, tạo điều kiện để ngài sáng lập dòng tu mới với linh đạo tôn kính và loan truyền mầu nhiệm Đức Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội. Vì thế, thánh nhân đã quyết định ở lại giáo phận Poznan. Một thời gian ngắn sau cuộc tiếp kiến của Đức Giám mục TêphanôWierzbowski, cha Stanislaô biết đến một nhà quý tộc đạo đức và được mọi người trong cộng đồng kính nể là ông Giacôbê Karski, người đang tìm kiếm một vị tuyên úy trong tòa án. Sau lời khuyên nhủ của vị giải tội, cha Stanislaô chấp nhận chức vụ này. Ông Karski vô cùng sung sướng khi nghe tin đó. Ông gửi ngay xe ngựa đến Vacsava đón thánh nhân về gia đình mình. Đầu tháng 9 năm 1671, cha Stanislaô bắt đầu công việc của mình tại tòa án. Trong hai năm ở với gia đình ông Karski, cha cảm thấy rất hài lòng vì sự thân mật và cởi mở của họ. Trong khoảng thời gian này, ngài bắt đầu tìm mọi cách và mọi phương tiện để thành lập một dòng tu mới. Đó là Dong Linh muc Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội.

RkJQdWJsaXNoZXIy MjI2Mw==